Ngữ Văn - Tin học - Văn phòng
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
THÀNH TÍCH
VĂN BẢN
Bài tham luận : MỘT SỐ VẤN ĐỀ ÔN THI QUỐC GIA
03-02-2018 14:28:09

 Bài tham luận : MỘT SỐ VẤN ĐỀ ÔN THI QUỐC GIA

A.KHÁI QUÁT:

-  Theo CV số 1933/BGDĐT-GDTrH, ngày 15/4/2014 hướng dẫn về việc ôn thi tốt nghiệp THPT năm học 2014-2015, đối với môn Ngữ Văn, thì việc đánh giá năng lực học sinh theo hướng đổi mới. Đó là ngoài việc tích hợp liên môn, còn chú trọng đánh giá hai kĩ năng quan trọng của học sinh là đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Trong đó, chú trọng đến kĩ năng viết

     - Tham khảo đề thi hằng năm, Bộ càng ngày càng đổi mới theo hướng mới, người hoc nắm được kiến thức nền thật vững có thể làm bài tốt…..

- Trước hết ta nghiên cứu lại  đề thi QG năm 2015

ĐỀ THI  và ĐÁP ÁN THPT QUỐC GIA NĂM 2015- MÔN VĂN- Thời gian : 180’

Phần đọc hiểu (3.0 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời

Cho biển cả không còn hoang lạnh

Đứa ở đồng chua

Đứa vùng đất mặn

Chia nhau nỗi nhớ nhà

 Hoàng hôn tím ngát xa khơi

 Chia nhau tin vui

Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát

 Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt

Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng

Chúng tôi coi thường gian nan

Dù đồng đội tôi có người ngã trước miệng cá mập

Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn

 Ngày mai đảo sẽ nhô lên

 Tổ Quốc Việt Nam một lần nữa nối liền Hoàng Sa, Trường Sa

 Những quần đảo long lanh như ngọc dát

Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát

 Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi

Đảo à, đảo ơi!

Đảo Thuyền Chài – 8- 1982

 (Trích: Hát về một hòn đảo – Trần Đăng Khoa, Trường Sa, NXB Văn học, 2014, tr. 51)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

-Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

-Cuộc sống gian khổ và nguy hiểm trên đảo của những người lính được miêu tả qua những từ ngữ  “chân lều bạt”, “có người ngã trước miệng cá mập”, “có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn”…

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long lanh như ngọc dát.

-Câu thơ sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh: so sánh những quần đảo với ngọc dát.

-Hiệu quả của b.p tu từ: thể hiện vẻ đẹp của biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa với một niềm tự hào và tự tôn dân tộc.

 Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/ chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng).

Gợi ý : Đoạn thơ gợi lên cho chúng ta tình cảm yêu mến, cảm phục trước tinh thần vượt lên gian khổ và sự lạc quan của người lính đảo. Từ đó, HS có thể nêu trách nhiệm của bản thân đối với việc giữ gìn biển đảo quê hương.

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

              Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt, xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng,với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, và con hàng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất…. có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rống đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn,5  khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay, đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ. Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo  động nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.

(Trích: Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr 36- 37)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

-Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là nghị luận.

 Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?

-Nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây chính là ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.

Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay? Câu 8. Anh/ chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”?(Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).

Gợi ý : Trong cuộc sống, con người luôn tồn tại hai giá trị vật chất và tinh thần. Nhưng sự nông nổi của con người là đôi khi quá chạy theo giá trị tầm thường của vật chất mà không chú ý đến giá trị về mặt tinh thần. cái rỗng về tinh thần mới là cái đáng lo và đáng sợ nhất.

PHẦN LÀM VĂN Câu 1 (3.0 điểm)

 Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.

Yêu cầu chung

- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm riêng của mình để làm bài. Trong đó, đặc biệt lưu ý đến việc thể hiện bố cục hoàn chỉnh của một bài văn nghị luận (có đủ mở bài, thân bài, kết bài; thân bài phải bao gồm nhiều đoạn văn), cách hành văn, chính xác và sinh động. Đồng thời phải đáp ứng đúng và đầy đủ yêu cầu về luận đề và nội dung.

- Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và luật pháp.

Yêu cầu cụ thể

1. Giải thích ý kiến

Thí sinh cần giải thích thế nào là kỹ năng sống và việc tích lũy kiến thức. Kỹ năng sống là những kỹ năng cần thiết giúp con người sống và sống hội nhập được với xã hội. Chẳng hạn như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng sinh tồn và vượt thoát trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng học tập có phương pháp, kỹ năng giải quyết khó khăn, kỹ năng đối phó với nguy hiểm, kỹ năng hòa hợp với thiên nhiên,... Từ đó xác định ý kiến được nêu trong đề có nội dung khẳng định vai trò quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sống: cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.

2. Bàn luận

Thí sinh có thể mở rộng sự bàn luận ra các hướng khác nhau; dưới đây là những ý tham khảo (không nhất thiết thí sinh phải làm giống những ý này):

- Để có thể hòa hợp với đời sống xã hội, con người cần phải tích lũy một số kiến thức căn bản từ gia đình, nhà trường, xã hội, sách vở, báo chí,...

- Có nhiều người bị vấp ngã một cách đau đớn vì thiếu kỹ năng sống. Đôi khi thiếu vài kỹ năng sống nào đó mà con người phải trả một giá khá đắt (ví dụ minh họa).

- Thiếu kỹ năng sống, người ta có thể hành động một cách sai trái, dại dột. Từ đó trở thành mối nguy hiểm cho xã hội (ví dụ minh họa: thiếu kỹ năng giải quyết những va chạm tình cờ gặp phải trong cuộc sống, chỉ từ một sự va chạm nhỏ trong giao thông, người ta có thể trở thành một kẻ sát nhân) .

- Có kỹ năng sống tốt, phù hợp với hoàn cảnh xã hội, người ta dễ đạt được sự thăng tiến. Có nhiều người kiến thức và học vị không cao nhưng có kỹ năng sống tốt đã đạt được nhiều thành công lớn trong cuộc sống (ví dụ minh họa)

- Cuộc sống phát triển, khoa học công nghệ ngày càng đổi mới. Nó đòi hỏi người làm việc phải có những cái kỹ năng mới như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng về ngoại ngữ, tin học, kỹ năng hội nhập với cộng đồng quốc tế, kỹ năng ứng xử với những mặt trái của mạng xã hội,... Ví dụ trường hợp một nữ sinh đã tự tử vì không biết cách ứng phó với hành vi xấu xúc phạm đến đời tư từ mạng xã hội.

- Khẳng định tính đúng đắn của luận đề: rèn luyện kỹ năng sống là một việc cần thiết không kém với việc tích lũy kiến thức, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh.

3. Bài học nhận thức và hành động 

Từ những suy nghĩ và liên hệ của mình, thí sinh có thể rút ra những bài học khác nhau; dưới đây là những ý tham khảo:

- Kỹ năng sống không phải tự dưng mà có, nó đòi hỏi xã hội và bản thân phải có ý thức sâu sắc về sự quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sống. Từ trong gia đình, ông bà cha mẹ, anh chị, ngay từ đầu phải có ý thức giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho con em của mình. Nhà trường nên đưa kỹ năng sống vào giờ học chính khóa và xem đó là một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng, bên cạnh việc giáo dục kiến thức. Các tổ chức xã hội cũng nên cũng tạo điều kiện để mọi công dân được rèn luyện kỹ năng sống. Các cấp chính quyền cần xây dựng môi trường sống lành mạnh để góp phần tạo lập nếp sống phù hợp với chuẩn mực pháp luật và đạo đức nêu tấm gương tốt cho những người trẻ phấn đấu và hành xử.

- Bản thân từng người, nhất là học sinh, sinh viên cần phải thấy sự cần thiết và ích lợi của việc rèn luyện kỹ năng sống để từ đó bên cạnh việc trau dồi kiến thức có ý thức và nỗ lực rèn luyện kỹ năng sống.

- Nếu bên cạnh kiến thức tốt, tất cả mọi người đều có kỹ năng sống tốt thì đời sống xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và đáng sống hơn.

Câu 2 (4.0 điểm)

“Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:

- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rộng luộc chấm muối…

- Lão ta hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.

 - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.

 - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi

 - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!

 - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? – Tôi hỏi

 - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ…. Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…

 - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…

 - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát – trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?

- Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú? Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:

 - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hành chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con, cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được. Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt sáng lên như một nụ cười – vả lại , ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.

 - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi

- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…

(Trích Chiếc thuyền ngoài xa –Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12,tập hai, NXB Giáo dục, 2015, tr. 75 – 76)

Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

1.Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm:

-Vài nét về sáng tác của Nguyễn Minh Châu.

-Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” và nhân vật người đàn bà hàng chài.

-Giới thiệu được cuộc trò chuyện.

2.Bình luận:

  a/ Tóm tắt tình huống truyện:

-Sau phát hiện về cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, Phùng đã kinh hoàng khi chiếc thuyền tới gần và phát hiện ra cảnh bạo lực đáng sợ trong gia đình người đàn bà hàng chài.

b/Giới thiệu vài nét về đoạn văn:

-Đoạn trích tái hiện lại cuộc trò chuyện giữa ba nhân vật: Phùng, chánh án Đẩu và người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện.

c/Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài qua đoạn trích:

   *Thân phận khốn cùng của người phụ nữ làm nghề chài lưới:

-Nỗi khổ vô hạn vì nghèo túng: đông con, thuyền chật

-Nỗi khổ cùng cực vì bị chồng hành hạ thường xuyên.

    *Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ làm nghề chài lưới:

           -Sự bao dung, độ lượng, vị tha

           -Tình mẫu tử tha thiết, thiêng liêng, cảm động

           -Sự thâm trầm, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời

→ “cái hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”

d/Cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn: nhìn con người và cuộc sống toàn diện, trên nhiều phương diện.

Sau chiến tranh, cuộc sống của con người vẫn còn nhiều khó khăn, gian khổ, cái nghèo, cái đói chi phối cuộc sống của con người

→ Đề ra một vấn đề trong xã hội: giải quyết triệt để, mang tính chất toàn xã hội đối với các bi kịch của cuộc sống con người.

3. Kết luận:

-Khái quát, đánh giá chung các giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích và truyện ngắn.

 

-  Từ đề thi năm 2015 cho thấy hướng ra đề theo hướng mới ( hướng mở ) .

- Theo dõi và ôn thi hằng năm cho HS, tôi thấy muốn ôn thi tốt cho HS, ta nên ôn bám sát theo hướng đổi mới của BGD.

- Theo yêu cầu của SGD, tôi xin đưa ra hướng ôn thi theo sát đề thi của BGD – quý thầy cô tham khảo .

 

 

 

B. NỘI DUNG:

I. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN:

LÍ THUYẾT ĐỌC HIỂU

I.                   Kĩ năng đọc hiểu

QUY TRÌNH BIÊN SOẠN CÂU HỎI/BÀI TẬP KIẾM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

+ Bước 1: Lựa chọn chủ đề: Đọc hiểu văn bản, Làm văn, Tiếng Việt căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học). Mỗi chủ đề lớn có thể chia thành những chủ đề nhỏ để xây dựng câu hỏi/ bài tập.

+ Bước 2: Xác định mục tiêu kiểm tra, yêu cầu của kiến thức, nội dung đạt được trong bài làm của học sinh: Chuẩn kiến thức- kỹ năng theo yêu cầu của môn học. Chú ý kĩ năng cần hướng đến những năng lực có thể hình thành và phát triển sau mỗi bài tập.

+ Bước 3: Lập bảng mô tả mức độ đánh giá theo định hướng năng lực. Bảng mô tả mức độ đánh giá theo năng lực được sắp xếp theo các mức: nhận biết - thông hiểu - vận dụng - vận dụng cao. Khi xác định các biểu hiện của từng mức độ, đến  mức độ vận dụng cao chính là học sinh đã có được những năng lực cần thiết theo chủ đề.

Các bậc nhận thức

Động từ mô tả

Biết: Sự nhớ lại, tái hiện kiến thức, tài liệu được học tập trước đó như các sự kiện, thuật ngữ hay các nguyên lí, quy trình.

- (Hãy) định nghĩa, mô tả, nhận biết, đánh dấu, liệt kê, gọi tên, phát biểu, chọn ra, …

Hiểu: Khả năng hiểu biết về sự kiện, nguyên lý, giải thích tài liệu học tập, nhưng không nhất thiết phải liên hệ các tư liệu

- (Hãy) biến đổi, ủng hộ, phân biệt, ước tính, giải thích, mở rộng, khái quát, cho ví dụ, dự đoán, tóm tắt.

Vận dụng thấp: Khả năng vận dụng các tài liệu đó vào tình huống mới cụ thể hoặc để giải quyết các bài tập.

- (Hãy) xác định, khám phám tính toán, sửa đổi, dự đoán, chuẩn bị, tạo ra, thiết lập liên hệ, chứng mính, giải quyết.

- (Hãy) vẽ sơ đồ, phân biệt, minh họa, suy luận, tách biệt, chia nhỏ ra…

Vận dụng cao:

Khả năng đặt các thành phần với nhau để tạo thành một tổng thể hay hình mẫu mới, hoặc giải các bài toán bằng tư duy sáng tạo.

Khả năng phê phán, thẩm định giá trị của tư liệu theo một mục đích nhất định.

- (Hãy) phân loại, tổ hợp lại, biên tập lại, thiết kế, lí giải, tổ chức, lập kế hoạch, sắp xếp lại, cấu trúc lại, tóm tắt, sửa lại, viết lại, kể lại.

- (Hãy) đánh giá, so sánh, đưa ra kết luận thỏa thuận, phê bình, mô tả, suy xét, phân biệt, giải thích, đưa ra nhận định.

+ Bước 4: Xác định hình thức công cụ đánh giá (các dạng câu hỏi/bài tập): Công cụ đánh giá bao gồm các câu hỏi/bài tập định tính, định lượng, nhằm cung cấp các bằng chứng cụ thể liên quan đến chuyên đề và nội dung học tập tương ứng với các mức độ trên. Chú ý các bài tập thực hành gắn với các tình huống trong cuộc sống, tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm theo bài học.

2. Kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học

CÁC BƯỚC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC

Bước 1:Đọc - hiểu ngôn từ: Hiểu được các từ khó, từ lạ, các điển cố, các phép tu từ, hình ảnh… (đối với thơ). Đối với tác phẩm truyện phải nắm được cốt truyện và các chi tiết từ mở đầu đến kết thúc. Khi đọc văn bản cần hiểu được các diễn đạt, nắm bắt mạch văn xuyên suốt từ câu trước đến câu sau, từ ý này chuyển sang ý khác, đặc biệt phát hiện ra mạch ngầm – mạch hàm ẩn, từ đó mới phát hiện ra chất văn. Bởi thế, cần đọc kĩ mới phát hiện ra những đặc điểm khác thường, thú vị.

            Bước 2:Đọc -  hiểu hình tượng nghệ thuật: Hình tượng trong văn bản văn học hàm chứa nhiều ý nghĩa. Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật của văn bản văn học đòi hỏi người đọc phải biết tưởng tượng, biết  “cụ thể hóa” các tình cảnh để hiểu những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát. Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi phát hiện ra những mâu thuẫn tiềm ẩn trong đó và hiểu được sự lô gic bên trong của chúng.

            Bước 3:Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học: Phải phát hiện được tư tưởng, tình cảm của nhà văn ẩn chứa trong văn bản. Tuy nhiên tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học thường không trực tiếp nói ra bằng lời. Chúng thường được thể hiện ở giữa lời, ngoài lời, vì thế người ta đọc – hiểu tư tưởng tác phẩm bằng cách kết hợp ngôn từ và phương thức biểu hiện hình tượng.

            Bước 4:Đọc - hiểu và thưởng thức văn học: Thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự phát hiện chân lí đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệ của nhà văn, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậm đối với các chi tiết đặc sắc của tác phẩm. Đó là đỉnh cao của đọc – hiểu văn bản văn học. Khi đó người đọc mới đạt đến tầm cao của hưởng thụ nghệ thuật.

3. Kĩ năng đọc hiểu văn bản

 

 

 

II. Nội dung kiến thức

Chuyên đề 1: CÁC DẠNG ĐỀ ĐỌC –HIỂU

A/ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG:

I/ Phạm vi và yêu cầu của phần đọc – hiểu trong kì thi THPT QG

   1. Phạm vi:

   1.1. Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):

- Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọc thêm)

- Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình).

1.2. Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: Vấn dề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý, ... Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo chí).

.2/Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu

2.1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

 

Phương thức biểu đạt

Nhận diện qua mục đích giao tiếp

1

Tự sự

Trình bày diễn biến sự việc

2

Miêu tả

Tái hiện trạng thái, sự vật, con người

3

Biểu cảm

Bày tỏ tình cảm, cảm xúc

4

Nghị luận

Trình bày ý kiến đánh giá, bàn luận…

5

Thuyết minh

Trình bày đặc điểm, tính chất, phương pháp…

6

Hành chính – công vụ

Trình bày ý muốn, quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn, trách nhiệm giữa người với người

2- Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ:

 

 

Phong cách ngôn ngữ

Đặc điểm nhận diện

1

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

- Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…Trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm  trong giao tiếp với tư cách cá nhân

- Gồm các dạng chuyện trò/ nhật kí/ thư từ…

2

Phong cách ngôn ngữ báo chí (thông tấn)

-Kiểu diễn đạt dùng trong các loại văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự (thông tấn = thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi)

3

Phong cách ngôn ngữ chính luận

Dùng trong lĩnh vực chính trị - xã hội, ; người giao tiếp thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm tư tưởng, tình cảm của mình với  những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội

4

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

-Dùng chủ yếu trong tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người; từ ngữ trau chuốt, tinh luyện…

5

Phong cách ngôn ngữ khoa học

Dùng trong những văn bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học, đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu

6

Phong cách ngôn ngữ hành chính

-Dùng trong các văn bản thuộc lĩnh vực giao tiếp điều hành và quản lí xã hội ( giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, Nhân dân với các cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan…)

3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ

          3.1. Các biện pháp tu từ:

- Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

- Tu từ về từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…

- Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…

 

Biện pháp tu từ

Hiệu quả nghệ thuật (Tác dụng nghệ thuật)

So sánh

 Giúp sự vật, sự việc được miêu tả sinh động, cụ thể tác động đến trí tưởng tượng, gợi hình dung và cảm xúc

Ẩn dụ

Cách diễn đạt  mang tính hàm súc, cô đọng, giá trị biểu đạt cao, gợi những liên tưởng ý nhị, sâu sắc.

Nhân hóa

 Làm cho đối tượng hiện ra sinh động, gần gũi, có tâm trạng và có hồn hơn.

Hoán dụ

Diễn tả sinh động nội dung thông báo và gợi những liên tưởng ý vị, sâu sắc

Điệp từ/ngữ/cấu trúc

Nhấn mạnh, tô đậm ấn tượng – tăng giá trị biểu cẳm

Nói giảm

Làm giảm nhẹ đi ý đau thương, mất mát nhằm thể hiện sự trân trọng

Thậm xưng (phóng đại)

Tô đậm ấn tượng về…

Câu hỏi tu từ

Bộc lộ cảm xúc

Đảo ngữ

Nhấn mạnh, gây ấn tượng về

Đối

Tạo sự cân đối

Im lặng (…)

Tạo điểm nhấn, gợi sự lắng đọng cảm xúc

Liệt kê

Diễn tả cụ thể, toàn điện

 

4. Yêu cầu nhận diện các phương thức trần thuật

- Lời trực tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện  (Tôi)

- Lời kể gián tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ ba – người kể chuyện giấu mặt.

Ví dụ: "Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng phẳng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực. Thay bút con, đề xong lạc khoản, ông Huấn Cao thở dài, buồn bã đỡ viên quan ngục đứng thẳng người dậy và đĩnh đạc bảo:

- Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?...Tôi bảo thực đấy: thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

Lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo. Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn nhau. Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh".

                                                                        (Trích Chữ người tử tù- Nguyễn Tuân)

-Lời kể nửa trực tiếp: Trần thuật từ ngôi thứ ba – người kể chuyện tự giấu mình nhưng điểm nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm.

Ví dụ:  “Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai…Việt ngóc dậ. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lãng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm…chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy.Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ. Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra…Cái cằm nhọn hoắt của anh Tánh nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên…Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút…”

 

5. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)

Các phép liên kết

Đặc điểm nhận diện

Phép lặp từ ngữ

Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước

Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa)

Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước

Phép thế

Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước

Phép nối

Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với câu trước

Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:

Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

            Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa .                                 (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

         ( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là:

- Phép lặp: “Trường học của chúng ta”

- Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.)

6. Nhận diện các thao tác lập luận

TT

Các thao tác lập luận

Nhận diện

1

Giải thích

Giải thích là vận dụng tri thức để hiểu vấn đề nghị luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ý của mình.

2

Phân tích

Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng.

3

Chứng minh

 Chứng minh là đưa ra những cứ liệu - dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ một lí lẽ một ý kiến để thuyết phục người đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề. ( Đưa lí lẽ trước - Chọn dẫn chứng và đưa dẫn chứng. Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận CM thuyết phục hơn. Đôi khi thuyết minh trước rồi trích dẫn chứng sau.)

4

Bác bỏ

 Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lập trường đúng đắn của mình.

5

Bình luận

 Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện tượng… đúng hay sai, hay / dở; tốt / xấu, lợi / hại…; để nhận thức đối tượng, cách ứng xử phù hợp và có phương châm hành động đúng.

6

So sánh

So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.

Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.

                                            Theo SGK Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

7. Yêu cầu nhận diện kiểu câu và nêu hiệu quả sử dụng

 7.1. Câu theo mục đích nói:

     - Câu tường thuật (câu kể)

     - Câu cảm thán (câu cảm)

     - Câu nghi vấn  ( câu hỏi)

     - Câu khẳng định

     - Câu phủ định.

    7.2. Câu theo cấu trúc ngữ pháp

      - Câu đơn

     - Câu ghép/ Câu phức

     - Câu đặc biệt.

8. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản

9. Yêu cầu nhận diện các lỗi diễn đạt và chữa lại cho đúng

       9.1. Lỗi diễn đạt( chính tả, dùng từ, ngữ pháp)

       9.2. Lỗi lập luận ( lỗi lô gic…)

10. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản

- Cảm nhận về nội dung phản ánh

- Cảm nhận về cảm xúc của tác giả

 Ví dụ:  Đọc đoạn thơ sau trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa...của Nguyễn Duy và trả lời câu hỏi sau:

                                                “(…) Mẹ ta không có yếm đào

                                        nón mê thay nón quai thao đội đầu

                                                rối ren tay bí tay bầu

                                       váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”

Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?

          (Trả lời: - Hình ảnh của người mẹ nghèo bình dị, lam lũ, quê mùa, tần tảo, tất tả, bươn chải giữa chốn trần gian được gợi qua trang phục, qua lam lũ nhọc nhằn lao động với bao lo toan vất vả.

                              - Cảm xúc của nhà thơ là nỗi buồn lặng thấm thía về gia cảnh nghèo nàn của mẹ là tình yêu thương, trân trọng và niềm tự hào về mẹ).

                        11. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản

- Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh thể hiện nội dung cụ thể/ nội dung chính của văn bản

- Chỉ ra từ ngữ chứa đựng chủ đề đoạn văn

Ví dụ 1 :

                     Đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi:

“Trong làn nắng ửng khói mơ tan.

Đôi mái nhà gianh lấm tấm vàng.

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang”

              ( Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử)

          Bức tranh mùa xuân  được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh nào?

    ( Trả lời: Bức tranh mùa xuân  được tác giả vẽ lên bằng những hình ảnh: nắng ửng, khói mơ tan, đôi mái nhà gianh, tà áo biếc, giàn thiên lí.

Ví dụ 2:

            Đọc đoạn trích và trả lởi câu hỏi:

Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”.

                                     ( Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)

 Hãy xác định câu chủ đề của đoạn văn và nêu ra 3 từ mà anh/ chị cho là chứa đựng chủ đề đoạn văn.

( Trả lời: - Câu chủ đề của đoạn văn: Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo.

              -  3 từ chứa đựng chủ đề đoạn văn là: cái đẹp – xinh – khéo).

12. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn văn/ Kết cấu đoạn văn)

- Diễn dịch      

- Qui nạp

- Tổng – Phân – Hợp

Ví dụ:

·         Diễn dịch

“Công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hiện nay đòi hỏi chúng ta phải có một sức mạnh nội lực đủ để đương đầu với bất kì thử thách nào, bất kì thế lực nào, nội lực phải được hiểu bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Chúng ta chỉ có thể bảo vệ được độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ khi chúng ta phát huy được cao độ sự tổng hợp của cả hai nguồn sức mạnh đó.

            Sức mạnh tinh thần đó là chủ nghĩa yêu nước được kết tinh từ tình yêu quê hương đất nước; là tình yêu đồng bào với tinh thần “người trong một nước phải thương nhau cùng”; là lòng tự hào về lịch sử vẻ vang và nền văn hóa dân tộc (…); là tinh thần độc lập dân tộc – mục tiêu tối thượng và nghĩa vụ thiêng liêng của mọi thế hệ người Việt nam; là ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia và kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền đó (…); là niềm tự tôn, tự hào dân tộc ngàn năm văn hiến…

            Nhưng chỉ nội lực tinh thần thôi thì chưa đủ. Phải phát huy nội lực đó trong xây dựng để phát triển sức mạnh vật chất. Chủ nghĩa yêu nước phải được “kích hoạt” để biến thành nội lực phát triển, xây dựng một nước Việt Nam hùng mạnh...”

                                    (Vũ Văn Quân – Cuộc trường chinh giữ nước – từ truyền thống đến hiện đại – Báo QĐND, ngày 09/02/2015).

            *Câu khái quát / Câu chủ đề:“Công cuộc bảo vệ nền độc lập dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hiện nay đòi hỏi chúng ta phải có một sức mạnh nội lực đủ để đương đầu với bất kì thử thách nào, bất kì thế lực nào, nội lực phải được hiểu bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần”.

·         Tổng – Phân – Hợp

“Người ta chẳng qua là một cây sậy, cây sậy mềm yếu nhất trong tạo hóa nhưng là một cây sậy có tư tưởng.

Cần gì cả vũ trụ phải tòng hành nhau (hùa vào nhau) mới đè bẹp cây sậy ấy? Một chút hơi, một giọt nước cũng đủ làm chết được người. Nhưng dù vũ trụ có đè bẹp người ta, người ta so với vũ trụ vẫn cao hơn vì khi chết thì biết rằng mình chết chứ không như vũ trụ kia, khỏe hơn người nhiều mà không tự biết rằng mình khỏe.

Vậy thì giá trị chúng ta là ở tư tưởng”.

(Theo Pa-xcan, bản dịch của Nghiêm Toản, trong Luận văn thị phạm)

“… Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.

            Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những qui luật của nó, hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước  khác nhau với những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng.

 Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.

Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt”.

                                                       (Bàn về việc đọc sách – Nguồn Internet)

13. Yêu cầu nhận điện thể thơ:

Đặc trưng của các thể loại thơ: Lục bát; Song thất lục bát; Thất ngôn; Thơ tự do; Thơ ngũ ngôn, Thơ 8 chữ…

Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời câu hỏi:

Tình ta như hàng cây

Đã qua mùa gió bão.

Tình ta như dòng sông

Đã yên ngày thác lũ.

 

Thời gian như là gió

Mùa đi cùng tháng năm

Tuổi theo mùa đi mãi

Chi còn anh và em.

Chỉ còn anh và em

Cùng tình yêu ở lại...

- Kìa bao người yêu mới

Đi qua cùng heo may.

          (Trích Thơ tình cuối mùa thu –   Xuân Quỳnh)

              Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn thơ trên.

                   (Thể thơ được sử dụng trong đoạn thơ trênthể thơ năm chữ/thơ ngũ ngôn)

 

PHẦN 2: LUYỆN TẬP THỰC HÀNH

 

I. Gợi ý về 1 số các tác phẩm trong chương trình lớp 11: GV Gợi ý ôn tập theo hệ thống câu hỏi sau:

1.“Xin lập khoa luật” (Trích  Tế cấp bát điều  - Nguyễn Trường Tộ):

- Bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có nội dung gì?

- Nội dung đó được thể hiện như thế nào?

- Thái độ của người viết về vấn đề đó?

- Đặt trong hoàn cảnh xã hội, bản điều trần đó nhằm mục đích gì?

       2. “Về luân lý xã hội ở nước ta”(Trích Đạo đức và luân lý Đông Tây- Phan Châu Trinh )

- Bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh có nội dung gì?

- Nội dung đó được thể hiện như thế nào?

- Thái độ của người  viết về vấn đề đó?

- Đặt trong hoàn cảnh xã hội, bài diễn thuyết của tác giả nhằm mục đích gì?

      3. Trong đọan văn :

                  “Tiếng nói là người bảo vệ qúi báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của Châu Âu,  việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi….Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng  mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…”

             (Trích “Tiếng mẹ đẻ- Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức ”-  Nguyễn An Ninh

a/ Nội dung cơ bản của đoạn trích là gì?

b/ Đoạn trích được diễn đạt theo phương thức nào?

c/ Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?

4.  Đoạn trích:

            “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên vọng canh, một cảnh tương xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián.

            Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên bà ái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa.

          Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng. Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực…”.

     a/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?Mô tả cảnh tượng gì?

     b/ Cảnh tượng có hàm chứa nhiều yếu tố tương phản? Đó là yếu tố gì?

     c/ Đoạn văn được trình bày theo phương thức biểu đạt nào?

 

II. Gợi ý một số tác phẩm trong chương trình văn học lớp 12:

1.      Tuyên ngôn độc lập” – Hồ Chí Minh

a/ Hoàn cảnh ra đời? Mục đích sáng tác?

b/ Xác định phong cách ngôn ngữ của văn bản?

2.      Cho đoạn văn:

Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”.

a/  Đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Của ai?

b/ Đoạn văn thuộc phong cách ngôn ngữ nào?

c/ Xác định  các phương thức biểu đạt? Phương thức biểu đạt chính?

3.      Trong “Đàn ghi ta của Lorca” của Thanh Thảo:

a/ Việc những chữ đầucác câu thơ không viết hoa có dụng ý nghệ thuật gì?

b/ Tìm và phân tích ý nghĩa biểu đạt của hai hình tượng cây đànLorca?

c/ Thủ pháp nghệ thuật chính để khắc họa hai hình tượng cây đàn  Lorca?

 

III/ Luyện tập phần đọc hiểu với các văn bản ngoài sách giáo khoa:

*Ngữ liệu được dùng có thể là một bài thơ, một trích đoạn bài báo hoặc một lời nói, lời nhận xét của tác giả nào đó về một sự việc, sự kiện.

*Cách thức ra đề:

      - Sẽ cố tình viết sai chính tả, sai cấu trúc ngữ pháp và yêu cầu học sinh sửa lại cho đúng.

      - Xác định hình thức ngôn ngữ biểu đạt, phương thức liên kết trong ngữ liệu.

     - Ý nghĩa của một chữ, một hình ảnh nào đó trong ngữ liệu đưa ra?

     - Nêu ý nghĩa nhan đề? (Hoặc hãy đặt tên cho đoạn trích).

     - Nhận xét mối quan hệ giữa các câu? Từ mối quan hệ ấy chỉ ra nội dung của đoạn?

     - Từ một hoặc hai câu nào đó trong ngữ liệu, yêu cầu viết 200 từ xung quanh nội dung ấy?

     - Nêu nội dung của văn bản? Nội dung ấy chia thành mấy ý?

     - Nếu là thơ:

     + Xác định thể thơ, cách gieo vần?

     + Biện pháp nghệ thuật được sử dụng? Giá trị biểu đạt của biện pháp nghệ thuật ấy?

     + Cảm nhận về nhân vật trữ tình?

     + Hiểu như thế nào về một câu thơ trong văn bản?

- Nếu  là văn xuôi:

+ Đưa ra nhiều nhan đề khác nhau, yêu cầu học sinh chọn một nhan đề và nêu ý nghĩa?

              + Chỉ ra các phép liên kết? Biện pháp nghệ thuật để biểu đạt nội dung?

*Một số ví dụ

1.      Trong bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước phiên thảo luận cấp cao của Đại Hội đồng LHQ khóa 68 có đoạn:

              “Thưa quý vị! Đã phải trải qua những cuộc chiến tranh ngoại xâm tàn bạo và đói nghèo cùng cực nên khát vọng hòa bình và thịnh vượng của Việt Nam chúng tôi càng cháy bỏng. Chúng tôi luôn nỗ lực tham gia kiến tạo hòa bình, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ hành tinh của chúng ta. Việt Nam đã sẵn sàng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ. Chúng tôi sẵn lòng đóng góp nguồn lực, dù còn nhỏ bé, như sự tri ân đối với bạn bè quốc tế đã giúp chúng tôi giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước, thoát khỏi đói nghèo. Việt Nam đã và sẽ mãi mãi là một đối tác tin cậy, một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế…”.

               a/ Xác định phong cách ngôn ngữ chức năng của đoạn văn?

b/ Phương thức liên kết?

c/ Hãy đặt tiêu đề cho đoạn văn?

2.               Trong đoạn văn:

          “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.

                                        (Hồ Chí Minh – “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta”)

a/ Nội dung của đoạn văn?

b/ Phương thức trình bày? Phong cách ngôn ngữ chức năng được sử dụng trong đoạn?

c/ Thái độ, quan điểm chính trị của Bác?

3.Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:      

“Chứng kiến sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chứng kiến những dòng chảy yêu thương của dân tộc giành cho Đại tướng, rất nhiều người bày tỏ sự xúc động sâu sắc. Thượng tá Dương Việt Dũng chia sẻ: “Sự ra đi của Đại tướng là một mất mát lớn lao đối với gia đình và nhân dân cả nước. Nhưng qua đây, tôi cũng thấy mừng là những người đến viếng Đại tướng không chỉ có những cựu chiến binh mà rất đông thế hệ trẻ, có không ít những em còn rất nhỏ cũng được gia đình đưa đi viếng… Có nhiều cụ già yếu cũng đến, cả những người đi xe lăn cũng đã đến trong sự thành kính. Chưa khi nào tôi thấy người ta thân ái với nhau như vậy.”.

                                                                                                (Theo Dân trí)

a/ Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

b/ Nội dung của văn bản trên? Hãy đặt tên cho văn bản?

c/ Viết bài nghị luận xã hội về bản tin trên (không quá 600 từ).

 

MỘT SỐ BÀI LUYỆN TẬP VÀ GỢI Ý

I/ Đề 1: Đọc đoạn văn và trả lời cho câu hỏi ở dưới:

          “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!...”.

1/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

(Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

2/ Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

(Phong cách ngôn ngữ của đoạn văn (Đoạn văn là lời cụ Mết) là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt -khẩu ngữ).

3/ Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

(Câu nói của cụ Mết – già làng – là câu nói được đúc rút từ cuộc đời bi tráng của Tnú và từ thực tế đấu tranh của đồng bào Xô Man nói riêng và dân tộc Tây Nguyên nói chung: giặc đã dùng vũ khí để đàn áp nhân dân ta thì ta phải dùng vũ khí để đáp trả lại chúng.

              - Thực tế, khi chưa cầm vũ khí đánh giặc, dân làng Xô Man chịu nhiều mất mát: anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị chặt đầu, mẹ con Mai bị giết bằng trận mưa roi sắt, Tnú bị đốt cụt mười đầu ngón tay… Vì vậy con đường cầm vũ khí đánh trả kẻ thù là tất yếu.).

              II/ Đề 2: Cho đoạn thơ:

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới biết

Thuyền đi đâu, về đâu

 

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Lòng thuyền đau – rạn vỡ”.

                                                                      (Xuân Quỳnh – “Thuyền và biển”)

      1/  Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào? Thể thơ đó có tác dụng ra sao trong việc diễn đạt nội dung đoạn thơ?

 (- Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ ngũ ngôn.

  - Tác dụng: diễn đạt rất nhịp nhàng âm điệu của sóng biển cũng như sóng lòng của người đang yêu.)

      2/ Nội dung của hai khổ thơ trên là gì?

(Tình yêu giữa thuyền và biển cùng những cung bậc trong tình yêu).

      3/ Nêu biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng? Tác dung?

( - Biện pháp nghệ thuật được nhà thơ sử dụng nhiều nhất là ẩn dụ: Thuyền – Biển tượng trưng cho tình yêu của chàng trai và cô gái. Tình yêu ấy nhiều cung bậc, khi thương nhớ mênh mông, cồn cào da diết, bâng khuâng…

-       Biện pháp nghệ thuật nữa được sử dụng là nhân hóa. Biện pháp này gắn cho những vật vô tri những trạng thái cảm xúc giúp người đọc hình dung rõ hơn tâm trạng của đôi lứa khi yêu.).

 

MỘT SỐ BÀI TẬP VÀ GỢI Ý THAM KHẢO

I/ Văn bản được học trong chương trình

          Câu 1: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

                  - Mình về mình có nhớ ta                         

               Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

                    Mình về mình có nhớ không

               Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

                  - Tiếng ai tha thiết bên cồn

               Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

                    Áo chàm đưa buổi phân li

               Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Trích “Việt Bắc” – Tố Hữu)

1.      Văn bản trên được được tổ chức theo hình thức nào?

2.      Vản bản nói về nội dung gì?

3.      Nội dung đó được thể hiện thông qua việc sử dụng từ ngữ, kiểu câu như thế nào?

4.      Văn bản đã sử dụng thành công các biện pháp tu từ cơ bản nào? Nêu tác dụng cụ thể của các phép tu từ trên

5.      Hãy đặt tiêu đề cho văn bản trên.

Gợi ý:

-          Văn bản trên được tổ chức theo hình thức đối đáp giữa người đi và kẻ ở.

-          Nội dung nói về sự băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn của con người trong buổi chia tay.

     -   Sự băn khoăn, lưu luyến, bịn rịn ấy được thể hiện rất rõ thông qua việc sử dụng các từ láy bộc lộ tâm trạng con người như: bâng khuâng, bồn chồn và việc sử dụng các câu hỏi tu từ với từ (Mình về mình có nhớ ta, mình về mình có nhớ không). Hỏi nhưng không chỉ đề hỏi mà  còn là để gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó.

-          Văn bản đã sử dụng thành công phép tu từ hoán dụ và im lặng (…)

+ Hoán dụ: Áo chàm được dùng để chỉ người đưa tiễn. Qua hình ảnh này ta hiểu được tính chất của cuộc chia tay. Đó là cuộc chia tay lớn, cuộc chia tay lịch sử. Trong cuộc chia tay này, không phải chỉ có một người, hai người đưa tiễn mà là cả Việt Bắc bao gồm nhân dân sáu tỉnh Cao – Bắc – Lạng; Hà – Tuyên – Thái và cả thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc tiễn đưa người đi, cán bộ kháng chiến.

+ Phép tu từ im lặng (dấu chấm lửng) ở cuối câu có (Khoảng lặng cảm xúc) tác dụng diễn tả phút ngừng lặng, chùng xuống của một cuộc chia tay đầy xúc động, bâng khuâng, tay trong tay mà không nói lên lời. Khoảng lặng cảm xúc gọi cảm hứng, gợi cảm xúc đánh thức tâm hồn con người.

-          Đặt tên cho văn bản: Cuộc chia tay lịch sử, Cảnh chia tay…

Câu 2: Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

              Quân xanh màu lá dữ oai hùm

              Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

              Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

              Rải rác biên cương mồ viễn xứ

             Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

             Áo bào thay chiếu anh về đất                 

             Sông Mã gầm lên khúc độc hành

(Trích “Tây Tiến” – Quang Dũng)

1.      Văn bản trên được viết theo thể thơ gì?

2.      Nêu nội dung cơ bản của văn bản

3.      Văn bản có sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, anh/ chị hãy liệt kê những từ  ngữ đó và nêu tác dụng của chúng.

4.      Chỉ ra phép tu từ nói giảm được sử dụng trong văn bản và nêu tác dụng của phép tu từ đó.

Gợi ý:

-          Văn bản trên được viết theo thể thơ thất ngôn.

     -   Văn bản tập trung khắc họa chân dung người chiến binh Tây Tiến (ngoại hình, tâm hồn, lí tưởng, sự hi sinh)

    -    Những từ Hán Việt được sử dụng là: đoàn binh, biên giới, chiến trường, biên cương, viễn xứ, áo bào, độc hành. Việc sừ dụng những từ Hán Việt ở đây đã tạo ra sắc thái trang trọng, mang ý nghĩa khái quát, làm tôn thêm vẻ đẹp của người lính Tây Tiến, góp phần tô đậm vẻ đẹp hào hùng cho hình tượng.

     -   Phép tu từ nói giảm dược thể hiện trong câu thơ: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Cụm từ “về đất” được thay thế cho sự chết chóc, hi sinh.  Phép tu từ này có tác dụng làm giảm sắc thái bi thương cho cái chết của người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến ngã xuống thật thanh thản, nhẹ nhàng. Đó là cuộc trở về với đất mẹ và đất mẹ đã dang rộng vòng tay đón những đứa con yêu vào lòng.

Câu 3: Đọc đoạn văn và trả lời cho câu hỏi ở dưới:

          “Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!...”.

1/ Đoạn văn trích trong tác phẩm nào? Của ai?

(Trích trong “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành).

2/ Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn văn?

(Phong cách ngôn ngữ của đoạn văn (Đoạn văn là lời cụ Mết) là phong cách ngôn ngữ sinh hoạt -khẩu ngữ).

3/ Câu nói “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý nghĩa gì?

(Câu nói của cụ Mết – già làng – là câu nói được đúc rút từ cuộc đời bi tráng của Tnú và từ thực tế đấu tranh của đồng bào Xô Man nói riêng và dân tộc Tây Nguyên nói chung: giặc đã dùng vũ khí để đàn áp nhân dân ta thì ta phải dùng vũ khí để đáp trả lại chúng.

              - Thực tế, khi chưa cầm vũ khí đánh giặc, dân làng Xô Man chịu nhiều mất mát: anh Xút bị giặc treo cổ, bà Nhan bị chặt đầu, mẹ con Mai bị giết bằng trận mưa roi sắt, Tnú bị đốt cụt mười đầu ngón tay… Vì vậy con đường cầm vũ khí đánh trả kẻ thù là tất yếu.).

 

 

 

 

 

 

CHUYÊN ĐỀ 2     II PHẦN VIẾT : 7 ĐiỂM

Câu 1 : NLXH ( 3 điểm ) :

-Gần đây đề thi ĐHCĐ , bộ ra đề rất sát thực tiễn cuộc sống, những vấn đề bức xúc của xh, những vấn đề nổi bật trong cuộc sống được xh quan tâm….

- HS cần bám sát thông tin thời sự để thu thập thêm kiến thức sẽ làm bài tốt.

-

Đề thi năm 2015

Có ý kiến cho rằng: Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề trên.

 

Yêu cầu chung

- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận xã hội của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng bày tỏ quan điểm riêng của mình để làm bài. Trong đó, đặc biệt lưu ý đến việc thể hiện bố cục hoàn chỉnh của một bài văn nghị luận (có đủ mở bài, thân bài, kết bài; thân bài phải bao gồm nhiều đoạn văn), cách hành văn, chính xác và sinh động. Đồng thời phải đáp ứng đúng và đầy đủ yêu cầu về luận đề và nội dung.

- Thí sinh có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ quan điểm của mình, nhưng phải có thái độ chân thành, nghiêm túc, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và luật pháp.

Yêu cầu cụ thể

1. Giải thích ý kiến

Thí sinh cần giải thích thế nào là kỹ năng sống và việc tích lũy kiến thức. Kỹ năng sống là những kỹ năng cần thiết giúp con người sống và sống hội nhập được với xã hội. Chẳng hạn như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nói trước đám đông, kỹ năng sinh tồn và vượt thoát trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng học tập có phương pháp, kỹ năng giải quyết khó khăn, kỹ năng đối phó với nguy hiểm, kỹ năng hòa hợp với thiên nhiên,... Từ đó xác định ý kiến được nêu trong đề có nội dung khẳng định vai trò quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sống: cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.

2. Bàn luận

Thí sinh có thể mở rộng sự bàn luận ra các hướng khác nhau; dưới đây là những ý tham khảo (không nhất thiết thí sinh phải làm giống những ý này):

- Để có thể hòa hợp với đời sống xã hội, con người cần phải tích lũy một số kiến thức căn bản từ gia đình, nhà trường, xã hội, sách vở, báo chí,...

- Có nhiều người bị vấp ngã một cách đau đớn vì thiếu kỹ năng sống. Đôi khi thiếu vài kỹ năng sống nào đó mà con người phải trả một giá khá đắt (ví dụ minh họa).

- Thiếu kỹ năng sống, người ta có thể hành động một cách sai trái, dại dột. Từ đó trở thành mối nguy hiểm cho xã hội (ví dụ minh họa: thiếu kỹ năng giải quyết những va chạm tình cờ gặp phải trong cuộc sống, chỉ từ một sự va chạm nhỏ trong giao thông, người ta có thể trở thành một kẻ sát nhân) .

- Có kỹ năng sống tốt, phù hợp với hoàn cảnh xã hội, người ta dễ đạt được sự thăng tiến. Có nhiều người kiến thức và học vị không cao nhưng có kỹ năng sống tốt đã đạt được nhiều thành công lớn trong cuộc sống (ví dụ minh họa)

- Cuộc sống phát triển, khoa học công nghệ ngày càng đổi mới. Nó đòi hỏi người làm việc phải có những cái kỹ năng mới như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng về ngoại ngữ, tin học, kỹ năng hội nhập với cộng đồng quốc tế, kỹ năng ứng xử với những mặt trái của mạng xã hội,... Ví dụ trường hợp một nữ sinh đã tự tử vì không biết cách ứng phó với hành vi xấu xúc phạm đến đời tư từ mạng xã hội.

- Khẳng định tính đúng đắn của luận đề: rèn luyện kỹ năng sống là một việc cần thiết không kém với việc tích lũy kiến thức, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh.

3. Bài học nhận thức và hành động 

Từ những suy nghĩ và liên hệ của mình, thí sinh có thể rút ra những bài học khác nhau; dưới đây là những ý tham khảo:

- Kỹ năng sống không phải tự dưng mà có, nó đòi hỏi xã hội và bản thân phải có ý thức sâu sắc về sự quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sống. Từ trong gia đình, ông bà cha mẹ, anh chị, ngay từ đầu phải có ý thức giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho con em của mình. Nhà trường nên đưa kỹ năng sống vào giờ học chính khóa và xem đó là một trong những mục tiêu giáo dục quan trọng, bên cạnh việc giáo dục kiến thức. Các tổ chức xã hội cũng nên cũng tạo điều kiện để mọi công dân được rèn luyện kỹ năng sống. Các cấp chính quyền cần xây dựng môi trường sống lành mạnh để góp phần tạo lập nếp sống phù hợp với chuẩn mực pháp luật và đạo đức nêu tấm gương tốt cho những người trẻ phấn đấu và hành xử.

- Bản thân từng người, nhất là học sinh, sinh viên cần phải thấy sự cần thiết và ích lợi của việc rèn luyện kỹ năng sống để từ đó bên cạnh việc trau dồi kiến thức có ý thức và nỗ lực rèn luyện kỹ năng sống.

- Nếu bên cạnh kiến thức tốt, tất cả mọi người đều có kỹ năng sống tốt thì đời sống xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và đáng sống hơn.

 

 

Một số đề tham khảo :

 ĐỀ 1 : Câu 1. (3,0 đim)

Trong phần đầu của đêm, anh hãy nghĩ về lỗi lầm của chính anh, trong phần sau của đêm, anh hãy nghĩ về những lỗi lầm của kẻ khác.

Viết một bài văn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên.

Gợi ý

-   Giải thích ý kiến:

+ Câu nói trên sử dụng một lối nói bóng bẩy, phần đầu và phần sau của đêm không có nghĩa là phần đầu và phần sau của một đêm cụ thể mà chỉ đơn thuần chỉ thứ tự: hãy nghĩ về lỗi lầm của mình trước khi nghĩ về lỗi lầm của người khác.

+ Nội dung của ý kiến: đưa ra lời khuyên mỗi người, hãy nghiêm khắc với chính mình. Trước khi phê phán người khác, hãy tự kiểm điểm lại những lỗi lầm của chính mình.

-   Bàn luận về ý kiến:

+ Giống như trong cuộc sống,'nhìn thấy vết bẩn trên mặt người khác thường rất dễ nhưng nhìn thấy vết bẩn trên mặt mình lại không hề đơn giản. Con người ta thường có xu hướng dễ nhìn thấy những sai lầm của người khác nhưng lại ít khi nhìn nhận những sai lầm của chính mình. Từ đó dẫn đến việc con người thường nghiêm khắc với người nhưng lại dễ dãi với mình.

+ Thái độ nói trên dễ dẫn đến những hậu quả tai hại:

• Ta chỉ phê phán những cái sai của người khác mà không biết rằng chính ta cũng đang phạm phải những sai lầm và vì thế cứ tiếp tục phạm sai lầm, chính vì vậy nên không bao giờ ta có thể hoàn thiện được chính mình.

• Khi gặp phải khó khăn hay thất bại, ta dễ đổ tại hoàn cảnh mà ít khi nhìn thấy những nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ chính ta. Từ đó sẽ dẫn đến việc khó có thể rút ra được bài học đúng đắn.

+ Ngược lại với thái độ trên, việc nghiêm khắc với chính mình có thể mang lại hiệu quả tích cực, giúp con người không ngừng tự hoàn thiện mình để từ đó rút ra được những bài học có ích từ những thất bại trong cuộc sống và có thể có được những thành công trong tương lai.

-  Bài học về nhận thức và hành động:

Cần phải nghiêm khắc với chính mình, trước hết phải luôn nhìn vào những sai lầm của chính mình để tự hoàn thiện.

 

ĐỀ 2 : Câu 1. (3,0 đim)

Giọt nước mắt “lạ” của Ánh Viên

Sau khi giành HCV và phá kỷ lục SEA Games ở nội dung 200m tự do, Ánh Viên- người hùng của thể thao Việt Nam đã khiến tất cả ngỡ ngàng khi cô khóc. Một cô gái cứng rắn, được mệnh danh là “cô gái thép” liệu có dễ “nhỏ nước mắt” vì hạnh phúc?

Không phải, Ánh Viên khóc là bởi cô chưa hài lòng về chính mình về những gì đã đạt được. Cô nói: “Tôi khóc không phải vì giành HC vàng và phá kỷ lục SEA Games mà vì trong lúc thi đấu đã mắc một số lỗi. Tôi không hài lòng khi bản thân lại có sai lầm như vậy, ngay cả khi chiến thắng”.

“Tôi sẽ không ngừng phấn đấu. Nếu tôi hài lòng với những gì đã đạt được, tôi là kẻ thất bại ngay từ bây giờ, chứ không phải chờ tới ngày mai. Tôi không nhớ đến chiến thắng, mỗi ngày đều nỗ lực như chưa giành được gì”- đó là Ánh Viên, VĐV bơi lội Việt Nam đã bước vào ngôi nhà SEA Games.

(Dẫn theo Thọ Nghĩa, http://laodong.com.vn, ngày 11-6-2015)

Anh chị hãy viết một bài văn ngắn ( khoảng 600 từ) để bày tỏ suy nghĩ gì về những lời tâm sự trên của Ánh Viên.

Gợi ý

* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

* Yêu cầu cụ thể:

a) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận (0,5 điểm):

- Điểm 0,5 điểm: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

- Điểm 0,25: Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn.

- Điểm 0: Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):

- Điểm 0,5: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Không bao giờ hài lòng với bản thân dù đã thành công. Cần phải nỗ lực, phấn đấu vươn lên nhiều hơn nữa trong cuộc sống.

- Điểm 0, 25: Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung.

- Điểm 0: Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc sang vấn đề khác.

c) Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động (1,0 điểm):

- Điểm 1,0: Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

+ Tóm tắt câu chuyện về Giọt nước mắt “lạ” của Ánh Viên

   ++ Ánh Viên khóc không phải vì cô vui mừng khi đoạt thành tích xuất sắc trong thi đấu

   ++ Ánh Viên khóc vì cô nhận ra một số lỗi trong quá trình thi đấu. Từ đó, cô hứa với lòng mình sẽ không bao giờ bằng lòng với chính mình, mà phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn.

+ Bình luận, phân tích, chứng minh vấn đề cần nghị luận

    ++ Ý nghĩa lời tâm sự của Ánh Viên

            +++Lời tâm sự thể hiện sự khiêm tốn của một tài năng trẻ. Cô không tỏ ra tự cao, tự mãn trước chiến tích của bản thân trên đấu trường khu vực ;

            +++ Lời tâm sự thể hiện ý chí, nghị lực, bản lĩnh phi thường của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc sống hôm nay. Họ có ý thức học tập và rèn luyện không mệt mỏi để đóng góp lớn cho ngành thể thao nói riêng, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung. Đây là kết quả của quá trình mà cô gái Ánh Viên được  nuôi dưỡng từ gia đình, giáo dục của nhà trường, của môi trường quân đội...và truyền thống của quê hương, đất nước.

++ Phân phán những biểu hiện trái ngược với suy nghĩ của Ánh Viên :

            +++ Một bộ phận giới trẻ có thái độ tự cao, tự mãn, ngủ quên trong chiến thắng. Một khi đã đạt được thành tích, họ không tiếp tục rèn luyện nên nhận thất bại

+++Ngoài ra, vẫn còn một bộ phận giới trẻ thiếu bản lĩnh, không có ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống.

 + Bài học nhận thức và hành động

            ++ Cần hiểu được giá trị của bản thân

             ++ Không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, tích cực hoạt động xã hội

- Điểm 0,75: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.

- Điểm 0,5: Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên.

- Điểm 0,25: Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên.

- Điểm 0: Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên.

d) Sáng to (0,5 đim)

- Điểm 0,5: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) ; thể hiện được quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

- Điểm 0,25: Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

- Điểm 0: Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

e) Chính t, dùng t, đặt câu (0,5 đim):

- Điểm 0,5: Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

- Điểm 0,25: Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

- Điểm 0: Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

 

ĐỀ 3 : Câu 1. (3,0 đim)

Hãy bày tỏ quan điểm của anh /chị về ý kiến sau: Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã hội và tận hưởng cuộc sống thực tại

II. Làm văn.  7,0 điểm

Hãy bày tỏ quan điểm của anh /chị về ý kiến sau: Gập máy tính lại, tắt điện thoại đi. Hãy giao tiếp nhiều hơn với xã hội và tận hưởng cuộc sống thực tại

 

Câu 1

(3,0 đ)

Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.

 

a. 0,5 đ

 

- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được nhận thức của cá nhân.

0,5

 

- Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu như trên; phần Thân bài chỉ có 1 đoạn văn

0,25

 

- Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài viết chỉ có 1 đoạn văn.

0

b. 0,5 đ

 

-Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý kiến có liên quan đến hiện tượng  sống ảo trong thế giới số - internet

0,5

- Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, nêu chung chung. 

0,25

- Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc đề.

0

c. (1,0)

- Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác giải thích, chứng minh, bình luận); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng; dẫn chứng phải lấy từ thực tiễn đời sống, cụ thể và sinh động.

- Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:

- Làm rõ thực trạng.

    +Con người trong thời đại ngày nay  đang sống trong một thế giới số, nơi mọi hoạt động từ những sinh hoạt thường ngày đến những sự kiện đặc biệt, từ công việc đến vui chơi giải trí, chúng ta đều tự gắn chặt với thế giới số.F.A (Forever Alone)- Mạng xã hội đã trở thành một phần của đời sống hiện đại, nhất là giới trẻ.

   + Con người do đó gắn chặt cuộc sống với môi trường “ảo” internet, không quan tâm tới thế giới thực tại quanh mình. Cuộc sống của họ diễn ra trên Facebook, Twitter, Youtube…họ tự cô lập mình với thế giới thực

-Bàn luận:

+ Cuộc sống ảo luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ, thú vị nên con người dễ bị cuốn hút về phía ấy.

 + Nhưng hãy nhớ rằng cuộc sống thực tế sinh động,  hấp dẫn hơn thế giới ảo, đừng quên những giá trị  hiện hữu quanh ta làm cho cuộc sống con người thực sự có ý nghĩa. 

  + Xã hội hiện đại không thể thiếu công nghệ. Phát minh công nghệ nâng cao chất lượng sống. Thời đại càng văn minh, con người càng không thể xa rời máy tính, điện thoại và internet.  Cuộc sống hiện đại cần công nghệ nhưng không nên lạm dụng mà cần có thời gian và cách thức sử dụng hợp lí, hài hòa

è Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.

 + Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh

      1,0

 

- Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên kết chưa thật chặt chẽ.

0,75

- Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên

0,5

- Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên

0,25

- Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên

0

d. 0,5 đ

- Sáng tạo: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,...); thể hiện được dấu ấn cá nhân, quan điểm và thái độ riêng, sâu sắc, thể hiện ý phản biện nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

0,5

 

- Có một số cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; thể hiện được một số suy nghĩ riêng sâu sắc nhưng không trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

0,25

- Không có cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo; không có quan điểm và thái độ riêng hoặc quan điểm, thái độ trái với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

0

e. 0,5 đ

-Không sai Chính tả, dùng từ, đặt câu ( Hoặc có 1 vài lỗi nhỏ, không đáng kể)

0,5

- Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,25

- Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0

 

Phần NLVH

- Gần đây , bộ hay cho một, hai đoạn văn, hoặc hai đoạn thơ ở hai tác phẩm khác nhau, yêu cầu :

- Bình luận về đoạn văn.

- So sánh hai đoạn văn, hai đoạn thơ.

- Cảm nhận của anh ( chị ) về ….

Đề thi năm 2015

Câu 2 (4.0 điểm)

“Người đàn bà bỗng chép miệng, con mắt như đang nhìn suốt cả đời mình:

- Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn, từ ngày cách mạng về đã đỡ đói khổ chứ trước kia vào các vụ bắc, ông trời làm động biển suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rộng luộc chấm muối…

- Lão ta hồi bảy nhăm có đi lính ngụy không? – Tôi bỗng hỏi một câu như lạc đề.

 - Không chú à, cũng nghèo khổ, túng quẫn đi vì trốn lính – bỗng mụ đỏ mặt nhưng cái lỗi chính là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật.

 - Vậy sao không lên bờ mà ở - Đẩu hỏi

 - Làm nhà trên đất ở một chỗ đâu có thể làm được cái nghề thuyền lưới vó? Từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho nhưng chẳng ai ở, vì không bỏ nghề được!

 - Ở trên thuyền có bao giờ lão ta đánh chị không? – Tôi hỏi

 - Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu… Giá mà lão uống rượu… thì tôi còn đỡ khổ…. Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão… đưa tôi lên bờ mà đánh…

 - Không thể nào hiểu được, không thể nào hiểu được! - Đẩu và tôi cùng một lúc thốt lên - Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…

 - Phải, phải, bây giờ tôi đã hiểu, bất ngờ Đẩu trút một tiếng thở dài đầy chua chát – trên thuyền phải có một người đàn ông… dù hắn man rợ, tàn bạo?

- Phải – Người đàn bà đáp – Cũng có khi biển động sóng gió chứ chú? Lát lâu sau mụ lại mới nói tiếp:

 - Mong các chú cách mạng thông cảm cho, đám đàn bà hành chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa. Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con, cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ. Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được. Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó! – Lần đầu tiên trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt sáng lên như một nụ cười – vả lại , ở trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ.

 - Cả đời chị có một lúc nào thật vui không? – Đột nhiên tôi hỏi

- Có chứ, chú! Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no…

(Trích Chiếc thuyền ngoài xa –Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12,tập hai, NXB Giáo dục, 2015, tr. 75 – 76)

Cảm nhận của anh/ chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong đoạn trích trên. Từ đó, bình luận ngắn gọn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa.

 

1.Giới thiệu vài nét về tác giả và tác phẩm:

-Vài nét về sáng tác của Nguyễn Minh Châu.

-Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” và nhân vật người đàn bà hàng chài.

-Giới thiệu được cuộc trò chuyện.

2.Bình luận:

  a/ Tóm tắt tình huống truyện:

-Sau phát hiện về cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh trong hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa, Phùng đã kinh hoàng khi chiếc thuyền tới gần và phát hiện ra cảnh bạo lực đáng sợ trong gia đình người đàn bà hàng chài.

b/Giới thiệu vài nét về đoạn văn:

-Đoạn trích tái hiện lại cuộc trò chuyện giữa ba nhân vật: Phùng, chánh án Đẩu và người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện.

c/Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài qua đoạn trích:

   *Thân phận khốn cùng của người phụ nữ làm nghề chài lưới:

-Nỗi khổ vô hạn vì nghèo túng: đông con, thuyền chật

-Nỗi khổ cùng cực vì bị chồng hành hạ thường xuyên.

    *Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ làm nghề chài lưới:

           -Sự bao dung, độ lượng, vị tha

           -Tình mẫu tử tha thiết, thiêng liêng, cảm động

           -Sự thâm trầm, sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời

→ “cái hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”

d/Cách nhìn nhận cuộc sống và con người của nhà văn: nhìn con người và cuộc sống toàn diện, trên nhiều phương diện.

Sau chiến tranh, cuộc sống của con người vẫn còn nhiều khó khăn, gian khổ, cái nghèo, cái đói chi phối cuộc sống của con người

→ Đề ra một vấn đề trong xã hội: giải quyết triệt để, mang tính chất toàn xã hội đối với các bi kịch của cuộc sống con người.

3. Kết luận:

-Khái quát, đánh giá chung các giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích và truyện ngắn.

-          Hướng dẫn hs PP làm các bài theo dạng bài bộ thường cho.

-          Tôi đưa ra dàn ý, hướng dẫn HS làm bài

 

DÀN BÀI CHUNG KIỂU BÀI SO SÁNH THƠ VÀ BÌNH LUẬN

1.Kiểu bài so sánh.


a.MB:

 +Dẫn dắt vấn đề.

 +Giới thiệu vấn đề.

b.TB:

   -Làm rõ đối tượng thứ nhất:

    +Phân tích nội dung.

    +Nghệ thuật.

    +Đánh giá chung:

   -Làm rõ đối tượng thứ hai.

    +Phân tích nội dung.

    +Nghệ thuật.

    +Đánh giá chung:

-So sánh:

    +Giống nhau:

    +Khác nhau:

   -Lí giải sự giống và khác nhau. (Nếu có)

 c.KL:


2.Kiểu bài bình luận.

a.MB:

 +Dẫn dắt vấn đề.

 +Giới thiệu vấn đề.

b.TB:

 -Giải thích ý kiến.

 -Cảm nhận hoặc phân tích vấn đề theo yêu cầu của đề.

 -Bình luận:Khẳng định vấn đề.

  +Nếu một ý kiến thì nó đúng hay sai. Có giải thích, chứng minh.

  +Nếu hai ý kiến thì:

    *Hai ý kiến đúng một phần và bổ sung cho nhau.

    *Hai ý kiến có môt sai một đúng, phải khẳng định mặt đúng và phủ nhận mặt sai.

c.KL:

Khẳng định lại vấn đề.

 

 

 

 

 

MỘT SỐ ĐỀ THỰC HÀNH :

     Đề 1.  Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu).

MỞ  BÀI

Giới thiệu khái quát về các  đối tượng so sánh

Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm

- Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có sở trường về truyện ngắn. Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống "nhặt vợ" độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp của những con người bình dị trong nạn đói thê thảm.
- Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ.

THÂN BÀI

1. Làm rõ đối tượng thứ nhất (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ  yếu là thao tác lập luận phân tích)

 Nhân vật người vợ nhặt

- Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bề ngoài và bên trong, ban đầu và về  sau.
- Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt.
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ. 
+ Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ  nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan.

2. Làm rõ đối tượng thứ 2 (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ  yếu là thao tác lập luận phân tích)

Nhân vật người đàn bà chài

- Giới thiệu chung: Là nhân vật chính, có vai trò  quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất.
- Một số  vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh.
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có  khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi.
+ Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời.

3. So sánh: nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích, so sánh)

So sánh nét tương đồng, khác biệt

- Tương đồng: Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh. Những vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khuất lấp. Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực...

- Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm. Vẻ đẹp được khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình... 

4. Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp của thời kì văn học…( bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)    

+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến cao(cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại(cảm hứng thế sự-đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại)

+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đa dạng, phức tạp( Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này
(có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi)
KẾT BÀI    
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu.
- Có  thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.     
(Học sinh dựa vào gợi ý bên để viết kết bài. Có nhiều cách kết bài khác nhau, hướng dẫn bên chỉ có tính chất tham khảo)

 

Đề số 2: Đề bài so sánh 2 nhân vật Đan Thiềm và Viên quản ngục
1. Giống nhau
- Yêu cái đẹp, trân trọng người tài, có tấm lòng "biệt nhỡn liên tài"
- Hoàn cảnh: đau khổ
+ Viên quản ngục: sống trong đống cặn bã, nơi ngự trị của cái ác, cái xấu, là.một thanh âm trong trẻo chen giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ
+ Đan Thiềm: cung nữ bị bỏ rơi, khổ sở đau đớn vì cái tài, cái đẹp.
- Cả 2 nv được xây dựng với bút pháp lãng mạn, nghệ thuật tương phản
- Đời sống nội tâm được miêu tả phong phú, thể hiện tài năng của tác giả
- Xây dựng mâu thuẫn căng thẳng, giàu kịch tích, gắn với những hình tượng có ý nghĩa biểu tượng cao ( chữ, Cửu Trùng Đài)
2. Khác nhau
* Viên quản ngục
- Là quản ngục chức cao
- Yêu cái tài, cái đẹp, đạt được sở nguyện là xin chữ ông Huấn Cao
- Trong mối quan hệ với HC, ông đối lập về vị thế xã hội nhưng sau đó trở thành tri âm tri kỷ ở bình diện nghệ thuật
- Được khắc họa ko chỉ qua đối thoại, hành động mà còn qua ngoại hình, ngôn.ngữ độc thoại. 
- Quản ngục được đặt trong mối xung đột và cuối cùng được triệt tiêu
- Qua nhân vật quản ngục, nhà văn bày tỏ thái độ ngợi ca cái đẹp
* Đan Thiềm
- Cung nữ
- Yêu cái đẹp mà chết, bi kịch, lụy vì tài
- Trong quan hệ với Vũ Như Tô, ĐT là kẻ đồng bệnh tương liên, đều yêu cái đẹp, đều hứng chịu bi kịch trở thành tri âm tri kỷ nhưng nhận thức của 2 nhân vật khác nhau. Nếu ĐT tỉnh táo sáng suốt thì VNT mù quáng.
- ĐT được khắc họa chủ yếu qua ngôn ngữ đối thoại, hành động và ngôn ngữ kịch
- ĐT được đặt trong xung đột, chưa đc giải quyết
- Qua ĐT, Nguyễn Huy Tưởng bày tỏ quan niêm giữa cái đẹp với cái thiện, giữa nghệ thuật với cuộc sống
3. Đánh giá
* Lý giải: Nguyễn Tuân là nhà văn lãng mạn có sở trường trong thể loại truyện ngắn còn Nguyễn Huy Tưởng là người có thiên hướng về đề tài lịch sử với thể loại kịch. Hơn thế, ý đồ sáng tạo của 2 nhà văn khác nhau cho nên chân dung của 2 nhân vật này bên cạnh những điểm tương đồng thì có sự khác biệt. 
* Qua 2 hình tượng nhân vật, các tác giả cho người đọc nhận thức đầy đủ và sâu sắc về cái đẹp, số phận người tài , khơi dậy trong chúng ta cái đẹp và tinh thần dân tộc. 

 

Đề 3 : Hãy phân tích những nét khác biệt và tương đồng của Sông Hương trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Cách khám phá, thể hiện vẻ đẹp sông Đà của Nguyễn Tuân:
- Sông Đà mang vẻ đẹp vừa hung bạo, vừa trữ tình (dẫn chứng). Nó hiện lên với bản chất nham hiểm của thứ kẻ thù số 1 của con người và nét duyên dáng gợi cảm của một người tình nhân chưa quen biết.
- Sông Đà tượng trưng cho vẻ đẹp hùng vĩ dữ dội và thơ mộng trữ tình của thiên nhiên Tây Bắc. Qua sông Đà, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của người lao động Tây Bắc
- Để thể hiện vẻ đẹp SĐ, Nguyễn Tuân đã kết hợp giữa kể, tả, biểu cảm; lựa chon những chi tiết gây ấn tượng mạnh mẽ (bờ đá, bãi đá, hút nước, tiếng thác, màu sắc…), vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật (so sánh, nhân hóa) và những liên tưởng bất ngờ, táo bạo; vận dụng vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực (điện ảnh, hội họa, quân sự, võ thuật, thơ ca); từ ngữ phong phú, sáng tạo …
Cách khám phá, thể hiện vẻ đẹp sông Hương của HPNT:
- Sông Hương hiện lên với vẻ đẹp phong phú, đa dạng: vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên, vẻ đẹp văn hóa, lịch sử… (dẫn chứng) 
- Vẻ đẹp của Sông Hương gợi liên tưởng đến nét dịu dàng, cổ kính của vùng đất cố đô, vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế.
- Nhà văn đã qua sát con sông từ nhiều điểm nhìn, nhiều góc độ: không gian, thời gian; địa lí, văn hóa, lịch sử… Giọng văn mang đậm chất trữ tình hướng nội… 
            Sự độc đáo trong cách khám phá, thể hiện đối tượng đã giúp các tác giả gợi lên được những vẻ đẹp khác nhau của cảnh sắc quê hương. Qua đó thấy được phong cách riêng độc đáo và tình yêu tha thiết của mỗi nhà văn đối với quê hương đất nước. 
Qua đây ta sẽ phân tích hình ảnh con sông Đà:
            1. Con sông Đà hùng vĩ, dài trên năm trăm cây số, hiểm trở với hàng trăm thác ghềnh mang những cái tên cổ sơ, xa lạ (Hát Loóng, thác Giăng, Hót Gió, Mó Tôm…).

            Ở ghềnh Hát Loóng “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè…!”. Âm thanh tiếng thác nghe ghê rợn như tiếng rống của hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, tre nứa bị cháy. Sông Đà có nhiều thạch trận, nhiều cửa tử ít cửa sinh, với những thần sông, thần đá trấn giữ “nhổm cả dậy vồ lấy thuyền”, đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chổ hiểm chực “đòi ăn chết cái thuyền”. Luồng nước vô sở bất chí, dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đầy thác ghềnh, thạch trận. Những ông tướng đá mặt xanh lè đáng sợ.
            Nhịp điệu câu văn dồn dập. Từ tượng thanh, từ tượng hình, những ẩn dụ so sánh, tiếng nói đời thường sông nước, ngôn từ nhà bình, thể thao thể dục, điện ảnh… được ông vận dụng để miêu tả thác ghềnh, gây ấn tượng về sự dữ dội, hiểm trở, hùng vĩ của sông Đà.
            Sông Đà còn mang vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc, ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai”. “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ”. Nguyễn Tuân gọi sông Đà là một cố nhân. Cảnh ven sông ở thượng nguồn lặng tờ. Có bầy hươu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương. Cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Có đoạn, có khúc sông: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử - Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”.
            Một về cố thi, một câu đồng dao, một câu thơ Đường, một vài câu thơ của Tản Đà của Nguyễn Quang Bích được Nguyễn Tuân lựa chọn đưa vào, cho thấy ông là một cây bút rất sành điệu, tài hoa dẫn dắt người đọc chiếm lĩnh vẻ đẹp sông Đà với tình yêu sông núi, giang sơn.
2. Người lái đò sông Đà

- Làm ăn giỏi, hơn 10 năm cùng con thuyền xuôi ngược sông Đà. Thông thuộc thác ghềnh, thuộc địa hình dòng sông như thuộc bàn tay mình.

- Chiến thắng thần sông, thần đá, chinh phục mọi cửa tử cửa sinh. Dũng cảm và tài ba đưa con thuyền “vút qua cổng đá cánh mở, cánh khép”, như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”… làm cho tên tướng đá “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng…”. Có lúc bị luồng nước đánh đòn ác hiểm. “hột sinh dục vụt muốn thọt lên cổ”, nhưng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo điều khiển con thuyền thoát hiểm.
- Rất tài tử. Sau một ngày dài đọ trí thi tài với thần sông thần đá, ông ung dung đốt lửa trong hang đá, nước ống cơm lam, nói về cá anh vũ, những hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mình bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Lúc ngừng chéo, ông chẳng hề bận tâm về chuyện vượt thác, chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ, quân tợn vừa rồi.
- Một chân dung tuyệt đẹp: Tuổi đã 70 mà cánh tay còn “trẻ tráng”, tóc bạc, cái đầu quắc thước, thân hình cao to, “gọn quánh như chất sừng, chất mun”. Tiếng nói âm vang át cả sóng nước. Ngực, vai có những vết chai như những củ nâu mà Nguyễn Tuân gọi đó là thứ “huân chương lao động siêu hạng”, với thái độ cảm phục ngợi ca.
Tiếp đến là sông Hương:
1. Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp sông Hương : được khơi gợi từ không gian và thời gian cụ thể.(Đoạn 1)
            Đó là khu vườn cổ sầm uất, bên dòng sông 'tỏa sáng một thần thái yên tĩnh và khoáng đạt'. Đó là những kí ức về Nguyễn Du, truyện Kiều: hình ảnh Nguyễn Du ngồi đọc Kiều dưới mái rêu phong, miên man trong vẻ đẹp của dong sông đang đổi sắc không ngừng và mùi hương của hoa trái trong vườn.
            Đó là âm sắc Huế thấp thoáng trong 'Truyện Kiều' : dòng sông đáy nước in trời , nội cỏ thơm, nắng vàng, khói biếc, dương liễu u hoài, hoa trà mi nồng nàn ,mùa thu quan san, vầng trăng thắm thiết,..._Cái bóng mông lung trong thơ Nguyễn Du, 'như một vang bóng thời gian, cặp tình nhân lí tưởng của Truyện Kiều: tìm kiếm, đuổi bắt, hào hoa, đam mê, thi ca và âm nhạc, gắn bó với nhau trong một tình yêu muôn thuở'.
2. Vẻ đẹp dòng sông Hương ở thượng nguồn phóng khoáng và man dại
            Sức sống mãnh liệt, hoang dại, dịu dàng, đắm say, như 'một bản trường ca của rừng già , rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn'. Khi chảy qua miền địa hình hiểm trở, sông Hương mang vẻ đẹp dữ dội: 'mãnh liệt qua ghềnh thác, cuộn xoắn như cơn lốc xoáy vào đáy vực bí ẩn', nhưng cũng có lúc lại 'dịu dàng, đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng'.Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương như một 'cô gái Digan, phóng khoáng và man dại', bởi rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ , một tâm hồn tự do và trong sáng.Nghệ thuật: so sánh, tu từ, ẩn dụ và nhân hóa.
3. Sông Hương khi về đến ngoại vi thành phố
            'Sắc đẹp dịu dàng , trí tuệ , người mẹ phù sa của một vùng văn hóa ,xứ sở', dòng sông duy nhất chỉ đi qua thành phố Huế.Với vốn hiểu biết sâu sắc về địa lí, văn hóa, lịc sử, tác giả miêu tả dòng sông thật sinh động vói cảm nhận mang nhiều khác biệt.
            Sông Hương như 'người con gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại (hình ảnh thơ mộng gợi liên tưởng cổ tích đến nàng công chúa ngủ trong rừng), Dòng sông hiện lên với 'khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm'.Lưu vực êm ả, thanh bình, vui tươi_giữa những bãi bờ xanh biếc , nhiều màu sắc trầm mặc, triết lí.
            Những lăng tẩm với 'giấc ngủ nghìn năm của vua chúa đựoc phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm lan tỏa khắp cả một vùng thượng lưu'.
            Vói những quan sát tinh tế, ngôn ngữ giàu hình tượng, so sánh, ẩn dụ , sông Hương trong dư vang Trường Sơn, dòng sông mềm như tấm lụa'. 'Những dãy đồi sừng sững như thành quách, với những đỉnh cao đột khởi :Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo', những ngọn đồi đã tạo ra nững mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời 'sớm xanh, trưa vàng ,chiều tím' rất lạ và đặc trưng như người Huề từng nhận xét.
            Sự thay đổi tính cách của người con gái sông Hương đưa ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, một cô gái Digan,man dại và phóng khoáng đã trở nên dịu dàng, e lệ, như 'người con gái đẹp được người tình mong đợi đến đánh thức', 'người mẹ phù sa của cả một vùng văn hóa xứ sở'.
            Thoảng đâu đó, mơ hồ mà vang vọng trong tâm thức Huế là tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga, tiến gà từ xóm làng trung du bát ngát,...
            Từ nghệ thuật ,vẻ đẹp của 2 con sông bạn hãy đi từ phân tích cụ thể từng con sông qua góc độ tiếp cận của 2 tác giả bằng ngòi bút miêu tả của mình chứng tỏ một điều cả hai đều mang trong mình một lòng yêu thiên nhiên sâu sắc ,dùng vẻ đẹp của thiên nhiên để làm nên bức tranh hiện thực trong văn đó chính là cái hay trong của hai tác giả khi đã khắc họa rõ nét hình ảnh 2 con sông ...

Tương đồng: 

- Cả 2 nhà văn đều khắc họa hình tượng của một dòng sông ở một miền đất, một xử sở để từ đó khắc họa những giá trị văn hóa, lịch sử, tâm hồn quê hương đất nước, con người.
- Cả 2 con sông đều mang ý nghĩa tượng trưng, đều là hình tượng cho một miền quê xứ sở.
- Cả 2 đều khắc họa nhưng một sinh thể về địa lí, văn hóa, lịch sử với những nét tương phản dữ dằn: hoang dại và thơ mộng trữ tình. Và cả 2 con sông đều mang vẻ đẹp kì vĩ đậm chất thơ.
Khác biệt:
- Ở sông Đà:
+ Nguyễn Tuân chú ý đến vẻ dẹp khác thường dữ dằn của Sông Đà vì thế tác giả tập trung miêu tả thạch trận thác nước sóng dữ trong cuộc giao chiến với con người. Hình tượng con sông: nhà văn đã làm nổi bật được hình tượng ông lái đò, vừa mang phẩm chất chiếc sĩ vừa là người nghệ sĩ trong cuộc giao chiến với thiên nhiên.
+ Cuộc chiến trên Sông Đà được miêu tả đầy kịch tính, gấp gáp, dữ dội với nhịp điệu nhanh, mạnh.
+ Vẻ đẹp Sông Đà gắn liền với lịch sử, tâm hồn, văn hóa của miền đất Tây Bắc hoang dại, dữ dội, nguyên sơ.
- Ở sông Hương:
+ Hoàng Phủ Ngọc Tường chú ý đến quá trình biến đổi trong vẻ đẹp sông Hương từ 2 chiều không gian. Thượng nguồn về hạ lưu, thời gian từ dựng nước đến giữ nước hiện tại. Tác giả tập trung khắc họa tâm hồn Huế: tài tử, đa tình, phòng túng mà trầm lắng qua vẻ đẹp sông Hương ở chốn cố đô.
+ Cái bất ngờ của sông Hương không nằm ở sóng gềnh, thác nước như sông Đà mà nằm ở sự pha trộn giữa đời thường binh dị và cái huyền ảo lắng sâu khó nắm bắt như tâm hồn của một mỹ nhân nơi kinh thành huế.
=> Từ 2 hình tượng mà ta nhận ra nét tương đồng và khác biệt trong phong cách nghệ thuật của 2 tác giả: cùng chất tài hoa, tài tử phóng túng nhưng ở Nguyễn Tuân nổi bật nét uyên bát, ưa chuộng cái khác thường dữ dội. Còn ở Hoàng Phủ Ngọc Tường là yếu tố trữ tình, êm dịu, lắng sâu mà ta có thể cảm nhận được.
Đề 4 : Phân tích và so sánh tinh thần nhân đạo trong 
tác phẩm Vợ Nhặt của Kim Lân  Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài.
            Khi viết bất cứ tác phẩm nào nhà văn cũng gửi vào đó suy nghĩ của mình. Với Vợ Nhặt  Vợ Chồng A Phủ thì tinh thần nhân đạo là nổi bật và xuyên suốt trong tác phẩm. Họ đều viết về hoàn cảnh của người nhân dân trước cách mạng tháng 8, nhưng mỗi tác phẩm lại hướng về một chủ đề riêng. Đó đó, cũng bộc lộ những nét riêng về tinh thần nhân đạo.
            Nếu như trong tác phẩm Vợ Nhặt người lao động đã rơi vào tình trạng chết chóc thì trong tác phẩm Vợ Chồng A Phủ nhà văn Tô Hoài đưa người đọc về với cảnh sống nặng nề, bị ràng buộc, đọa đày cả thể xác lẫn tinh thần với những thế lực thần quyền và cường quyề của bọn chúa đất miền núi. Cụ thể Mị và A Phủ chỉ vì những phong tục cổ hủ, lạc hậu mà cha Mị phải vay nợ nhà Thống lí Pá Tra từ đó Mị đã hoàn toàn mất quyền làm người. Thế lực cường quyền và thần quyền miền núi đã biến Mị từ một cô gái miền núi trẻ trung giỏi giang trở thành một phụ nữ lúc nào mặt cũng cúi và buồn rười rượi. Viết về điều này nhà văn Tô Hoài một mặt cảm thông chia sẽ với số phận khổ đau của người miền núi, lên án thế lực phong kiến miền núi hết sức tàn bạo. Chúng không chỉ đày đọa con người ta về mặt thể xác mà còn giết chết dần, chết mòn đời sống tinh thần của nhân dân lao động nghèo. Chúng không chỉ cướp mà còn dẫm đạp lên quyền sống vốn có của con người.
            Cũng viết về nạn nhân của hoàn cảnh xã hội nước ta nhưng Kim Lân lại mở rộng lòng mình ra đối với những con người lay lắt trong cái đói cái nghèo mà nguyên nhân là do bọn Pháp cấu kết với phát xít Nhật đàn áp, vơ vét. Vì đói mà người đàn bà đánh mất sĩ diện, vứt bỏ lòng tự trọng chạy theo người đàn ông xa lạ thế mà với chị ta chỉ thấy đáng thương chứ không đáng trách. Rõ ràng, nhà văn Kim Lân đã cảm thông, chia sẽ với những hoàn cảnh đáng thương này. Cùng từ những hoàn cảnh đó mà con người trở nên gần gũi nhau hơn, cưu mang, đùm bọc nhau trong lúc đói. Nhà văn đã cảm thông chia sẽ, tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đẩy nhân dân vào tình cảnh bần cùng.
            Thế nhưng tinh thần nhân đạo của hai tác phẩm không dừng lại ở đó mà hai nhà văn giúp người đọc phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của họ ở bước đường cùng và mở ra cho con đường để cho họ đi tới.

 

 Đề 5 :Anh (chị) hãy phân tích hình tượng nhân vật hai chị em Chiến và Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

Mở bài:

            - Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

            - Giới thiệu hai chị em Chiến và Việt.

Thân bài:

            Luận điểm 1: Nét chung của Chiến và Việt:

            - Chiến và Việt sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cách mạng.

            - Cùng chịu nhiều mất mát đau thương: chứng kiến cái chết của ba má.

            - Có chung mối thù với bọn xâm lược, cùng ý nghĩ: phải trả thù cho ba má. Có cùng nguyện vọng: Được cầm súng đánh giặc để trả thù cho ba má.

            - Tình yêu thương là vẻ đẹp tâm hồn của hai chị em. Tình cảm này được thể hiện sâu sắc và cảm động nhất trong cái đêm chị em giành nhau ghi tên tòng quân và sáng hôm sau trước khi lên đường nhập ngũ cùng khiêng bàn thờ má sang nhà chú Năm.

            Luận điểm 2:Nét riêng ở Chiến và Việt:

            - Nét riêng của Chiến: Hơn Việt một tuổi nhưng Chiến người lớn hơn hẳn:

                  + Chiến có thể bỏ ăn để đánh vần cuốn sổ gia đình.

                  + Chiến không chỉ nói "in như má" mà còn học được cách nói "trọng trọng" của chú Năm.

                  + Biết nhường nhịn em: Tuy có lúc giành nhau với em: Tranh công bắt ếch, đánh tàu giặc, đi tòng quân,..... nhưng cuối cùng bao giờ cô cũng nhường em (trừ đi tòng quân)

=> Nguyễn Thi đã xây dựng nhân vật Chiến có cá tính, vừa phù hợp với lứa tuổi và giới tính. Chiến là nhân vật được hồi tưởng qua Việt nhưng gây được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

            - Nét riêng của Việt: Là cậu con trai mới lớn còn rất trẻ con, vô tư:

                + Hay tranh giành với chị

                + Đêm trước ngày lên đường tòng quân, chị Chiến bàn với em bằng những lời trang nghiêm thì Việt "lăn kềnh ra ván cười khì khì", lúc thì "chụp một con đom đóm úp trong lòng bàn tay".

                + Vào bộ đội trong ba lô còn mang theo "một giàn ná thun".

               + Sự vô tư không ngăn cản được Việt trở thành anh hùng (Ngay từ bé Việt đã dám xông vào đá thằng đã giết cha mình. Khi trở thành chiến sĩ mặc dù chỉ có một mình với đôi mắt không còn nhìn thấy gì, hai bàn tay đau đớn Việt vẫn quyết tâm sống chết với quân thù).

=> Việt là thành công đáng kể trong cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Thi. Tuy còn hồn nhiên, nhỏ bé trước chị nhưng trước kẻ thù Việt lại vụt lớn lên chững chạc trong tư thế của một người chiến sĩ.

            Luận điểm 3:Đánh giá:

            - Nghệ thuật trần thuật qua dòng hồi tưởng của Việt đã khắc họa tính cách các nhân vật và miêu tả tâm lí sắc sảo. Ngôn ngữ góc cạnh và đậm chất Nam Bộ.

            - Chiến và Việt là khúc sông sau trong dòng sông truyền thống gia đình, có thể sẽ đi xa hơn nữa.

Kết bài:

            - Chiến và Việt là những nhân vật điển hình cho con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đầy gian khổ.

            - Những đứa con trong gia đình tiêu biểu cho phong cách NT của Nguyễn Thi.


            THƠ

1.  Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

  Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

  Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

  Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

  Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

……..

  Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung.

  Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

  Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

  Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.


(Sách giáo khoa Ngữ văn 12, Tập 2 – NXB Giáo dục ).

Từ cảm nhận về hai đoạn thơ trên, anh/chị hãy khái quát lên đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ TốHữu.

 

   Vài nét về Tố Hữu, bài thơ Việt Bắc  và vị trí của hai đoạn trích 

   Cảm nhận về đoạn 1:

     Bộ  tranh tứ  bình bằng thơ vẽ  cảnh Việt Bắc qua bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông.

     Đoạn thơ có cấu trúc độc đáo, rất cân chỉnh nhịp nhàng.

      Cặp lục bát mở đầu là lời ướm hỏi, cũng là cái cớ  của những lời bộc bạch, giãi bày. Tám câu còn lại là bốn cặp lục bát vẽ  cảnh bốn mùa. Trong mỗi cặp câu, cứ  câu lục nói cảnh lại đến câu bát  nói  người.  Thiên  nhiên  và  con  người  hài  hòa.

       Bức  họa  mùa  đông  với  rừng xanh hoa chuối đỏ, nắng vàng ngời lên sức sống thiên nhiên. Con người hiện lên trong tư thế  lao động khỏe khoắn.

       Bức tranh mùa xuân tươi tắn với hình  ảnh vềloài hoa đặc trưng của núi rừng và vẻ  đẹp của con người với động tác làm việcmềm mại, tỉ  mỉ, khéo léo: chuốt từng sợi giang.

       Khung cảnh mùa hạ  rực rỡ  sắc màu, rộn rã âm thanh. Sự  hiện diện lặng lẽ  của con  người như một nốt trầm xaoxuyến giữa bản hòa ca của đất trời. Bức họa mùa thu tươi sáng với âm thanh đầy ý nghĩa: tiếng hát ân tình thủy chung của người Việt Bắc

       Điệp từ  “nhớ” trở  đi trở  lại 5 lần, cặp đại từ  xưng hô “mình-ta” tình tứ, giọng hồi tưởng sâu lắng, thiết tha, ngọt ngào… là những yếu tố nghệ thuật cơ bản góp phần làm nên thành công cho đoạn thơ này.

Cảm nhận về đoạn 2:

  Đoạn thơ tái hiện hình  ảnh hào hùng của một Việt Bắc kháng chiến.

   -Ở  đó, khôngkhí ra trận là sự  kết tinh của lòng yêu  nước, tinh thần lạc quan, ý chí quyết chiến quyết thắng của quân và dân ta.

   -Tiết tấu nhịp nhàng, du dương như lời ru của Việt Bắc đến đây bị  phá vỡ. Thay vào đó là những câu thơ  ngắt nhịp ngắn, đều và nhanh mô phỏng nhịp của những bước chân hành quân thần tốc.

   - Hình  ảnh thơ kỳ  vĩ, lớn lao. Phép so sánh, ví von được sử dụng hiệu quả. Sự đối lập tương phản giữa ánh sáng và bóng tối được tạo ra và duy trì trong suốt đoạn thơ. Phụ  âm Đ xuất hiện dày đặc, rải đều khắp đoạn thơ  góp  phần  tạo  nên  âm  hưởng  mạnh  mẽ,  hào  hùng.  Đây  là  một  trong  những đoạn thơ mang đậm dấu ấn sử thi.

Khái quát về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu:

    -  Việt Bắc là một trong những khúc trữ  tình chính trị  hay nhất của đời thơ Tố Hữu.  Nhà  thơ  có  biệt  tài  thơ  hóa  những  vấn  đề  chính  trị.  Đoạn  trích  là  một minh  chứng  rằng  Tố  Hữu  “đã  đưa  thơ  chính  trị  lên  đến  trình  độ  rất  đỗi  trữ tình”.

   -  Hai đoạn thơ cũng cho thấy thơ Tố  Hữu có giọng điệu riêng, giọng tâm tình ngọt ngào. Đó là lời của người thương nói với người thương…

   -  Tính dân tộc đậm đà là một đặc điểm của phong cách nghệ  thuật thơ Tố Hữu.Điều này thể  hiện rõ nét qua hai đoạn thơ trên của phương diện nội dung và nghệ thuật.

    -  Thơ Tố  Hữu từ  cuối  Việt Bắc  mang khuynh hướng sử  thi và cảm hứng lãng mạn. Đặc điểm này rõ nét ở đoạn trích thứ hai.

Bình luận, đánh giá:

    -  Hai đoạn thơ là những đoạn đặc sắc nhất của bài  Việt Bắc,  thể  hiện rõ phong cách thơ Tố Hữu.

    -  Với phong cách nghệ thuật nổi bật, Tố Hữu xứng đang là một nhà thơ lớn, là lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam.

 

2.Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:


                 “Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi!

                   Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

                   Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

                   Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

 (Tây Tiến, Quang Dũng, Văn học 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 88).

“Nhớ khi giặc đến giặc lùng

  Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.

    Núi giăng thành luỹ sắt dày

  Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”

 ( Việt Bắc, Tố Hữu, Văn học 12, tập 1, NXB Giáo dục 2008, trang 112)


 

I. Mở bài

   Giới thiệu vài nét về tá giả và tác phẩm:

    - Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, tên tuổi của ông gắn liền với thi phẩm “Tây Tiến”. Bài thơ là nỗi nhớ lớn của tác giả về thiên nhên và con người. Bốn câu đầu thể hiện rõ nhất nội dung cũng như cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.

    - Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu. cả bài thơ là tình cảm cách mạng sâu nặng của những người cán bộ kháng chiến với chiến khu và những kỉ niệm kháng chiến. Bốn câu thơ nằm ở phần I của bài thơ phần nào thể hiện được đoạ lí ân tình thuỷ chung đó.

II. Thân bài

 1. Cảm nhận về đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng.

  - Đoạn thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết, vời vợi về miền Tây và người lính Tây Tiến. Thiên nhiên miền Tây xa xôi mà thân thiết, hoang vu và thơ mộng, con người Tây tiến gian khổ mà hào hoa.

  - Hình ảnh thơ có sự hài hoà, nét thực, nét ảo, vừa mông lung, vừa gợi cảm về cảnh và người; nhạc điệu có sự hoà hợp giữa lời cảm thán với ảm xúc ( câu mở đầu như một tiếng kêu vọng vào không gian), giữa mật độ dày những âm vần ( rồi; ôi; chơi vơi; hơi), điệp từ (nhớ/ nhớ) và lối đổi uyển chuyển (câu 3 và 4) đã tạo ra một âm hưởng tha thiết ngậm ngùi.

 2. Cảm nhận về đoạn thơ trong Việt Bắc của Tố Hữu

  - Đoạn thơ là nỗi nhớ da diết, khôn nguôi về những trận đánh của thiên nhiên và con người Tây Bắc. Thiên nhiên, đất trời, núi rừng Việt Bắc đã trở thành những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của quân và dân ta. Nó vừa bao vây quân thù, vừa che chở cho bộ đội.

 - Núi rừng vốn là những vật vô tri, song dưới con mắt của nhà thơ, núi rừng, thiên nhiên cũng trở nên ó ý chí, có tình người. Chúng cùng quân dân tham gia chiến đấu (Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây). Nghệ thuật nhân hoá, Tố Hữu đã biến núi rừng , Thiên nhiên thành con người Việt Nam anh dũng kiên cường ( Núi …quân thù). Hai từ “che” và “vây” đối lập làm nổi bật vai trò của những cánh rừng ở Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

3. So sánh

 - Điểm tương đồng:  Hai đoạn thơ đều bộc lộ nỗi nhớ tha thiết, sâu nặng về thiên nhiên và con người ở những miền quê mà người lính tiền chiến đã đi qua.

 - Điểm khác biệt:

  + Đoạn thơ trong Tây Tiến bộ lộ nỗi nhớ cụ thể của người trong cuộc, toát lên vẻ hào hoa, lãng mạn, hình ảnh thơ nghiêng về tả thực, trực quan.

  + Đoạn thơ trong bài Việt Bắc là cái tình, là lòng biết ơn sâu nặng của người cán bộ kháng chiến đối với đất, người Việt Bắc, vì thế hình ảnh thơ nghiêng về khái quát, tượng trưng.

III. Kết bài

- Khái quát lại nội dung, nghệ thuật của hai đoạn thơ.

- Đánh giá, mở rộng vấn đề.

 

3.Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau:


            Thương nhau chia củ sắn lùi

             Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

            Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

            Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.

      (Tố Hữu – Việt Bắc – Ngữ Văn 12 Nâng cao,

tập một, NXB Giáo dục, 2010, tr.84)

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau, mế thức một mùa dài.

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi.

   (Chế Lan Viên – Tiếng hát con tàu – Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục, 2010, tr.107)


 

Vài nét về tác giả, tác phẩm

− Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, lý tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc truyền thống. Việt Bắc là bài thơ xuất sắc của ông, ra đời vào tháng 10/1954, thể hiện tình cảm cách mạng sâu nặng đối với chiến khu và những kỷ niệm kháng chiến.

− Chế Lan Viên là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại. Thơ Chế Lan Viên giàu chất triết lí, suy tưởng, hình ảnh thơ sinh động, sáng tạo. Được gợi cảm hứng từ một sự kiện kinh tế-xã hội, xuất phát từ lòng biết ơn, sự gắn bó với nhân dân và niềm vui tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng, sáng tạo nghệ thuật, Chế Lan Viên viết bài thơ Tiếng hát con tàu.

Cảm nhận về hai đoạn thơ

a. Đoạn thơ trong bài Việt Bắc:

 − Về nội dung: Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ đằm thắm, sâu nặng của người cán bộ kháng chiến dành cho con người Việt Bắc.

 + Hai câu đầu: tuy cuộc sống gian khổ thiếu thốn nhưng người Việt Bắc vẫn chan chứa nghĩa tình “ chia ngọt sẻ bùi”

 + Hai câu sau: hình ảnh người mẹ Việt Bắc tần tảo chắt chiu, cần cù lao động

−  Về nghệ thuật:

 + Thể thơ lục bát với nhịp điệu linh hoạt, uyển chuyển; âm hưởng tha thiết, ngọt ngào.

 + Hình ảnh tượng trưng “chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa,chăn sui đắp cùng” kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa “ chia, sẻ, cùng” diễn tả được mối tình cảm , tình nghĩa sâu nặng giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. . .

Hình ảnh chọn lọc: “ người mẹ nắng cháy lưng” tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi.

b. Đoạn thơ trong bài Tiếng hát con tàu

   − Về nội dung: đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ của tác giả về những kỉ niệm sâu sắc với nhân dân Tây Bắc.

     + Hai câu đầu: nhớ lại kỷ niệm với “mế” người mẹ Tây Bắc đã nuôi dưỡng, đùm bọc cán bộ kháng chiến

+ Hai câu sau: lòng biết ơn, tình cảm yêu thương, ân nghĩa và sự cảm phục của tác giả đối với người mẹ Tây Bắc.

  −  Về nghệ thuật:

    + Câu cảm thán bộc lộ cảm xúc trực tiếp; lời thơ thấm thía, da diết.

    + Hình ảnh thật đến từng chi tiết nhỏ mà giàu sức gợi tả, nghệ thuật đối lập (lửa hồng – tóc bạc), thành ngữ được vận dụng sáng tạo            ( hòn máu cắt).

    + Cách xưng hô tự nhiên “con”, “mế” chỉ mối quan hệ gia đình thân tình ruột thịt ; sử dụng cụm từ khắc họa bối cảnh thời gian, gợi rõ sự thử thách, hi sinh trọn vẹn, vĩnh cửu, cao cả “ một mùa dài”,“trọn đời”.

Nét tương đồng và khác biệt:

 a. Tương đồng

  − Hai đoạn thơ đều thể hiện hình ảnh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tập trung ở hình ảnh người mẹ. Đó là những con người nghèo khó nhưng giàu tình nghĩa, lặng lẽ âm thầm cống hiến cho cách mạng …

  − Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng, ngợi ca, biết ơn nhân dân.

b. Khác biệt

  − Đoạn thơ trong bài “ Việt Bắc” viết về nhân dân Việt Bắc bằng thể thơ lục bát truyền thống…

  − Đoạn thơ trong bài “ Tiếng hát con tàu” viết về nhân dân Tây Bắc bằng thể thơ thất ngôn, đậm chất suy tưởng…

 

Kết Luận:

     Do hạn chế về thời gian, năng lực, kinh nghiệm giảng dạy, tham luận của chúng tôi mới là những định hướng mang tính chất khái quát, dừng lại ở một phạm vi hẹp với những vấn đề cơ bản nhất. Tham luận mang tính chất tham khảo - Rất mong được sự góp ý của các thầy cô để tham luận được hoàn thiện hơn.

 

Các tin khác

TRANG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG THPT VŨ ĐÌNH LIỆU TỈNH TRÀ VINH
Chịu trách nhiệm chính: Ông Nguyễn Tấn Phi - Phó Hiệu Trưởng
Quản lý: VÕ THÀNH NHÂN - TTCM Toán - ĐT: 0985 487 282
Địa chỉ: Ấp 2 - Xã Châu Thành - Tỉnh Vĩnh Long
Điện thoại: +84-074-3872 002 - E-mail: c3vudinhlieu@sgdtravinh.edu.vn
Thiết kế bởi Bão Công Nghệ
Đang trực tuyến: 145 - Lượt truy cập: 889327